ĐỐI THOẠI VỀ KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN (Chương VI)

ĐỐI THOẠI VỀ KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN

 

CHƯƠNG VI

CÁC VẤN ĐỀ VỀ CON NGƯỜI

 

I. ĐỨC TIN VÀ ĐẠO HIẾU

VẤN ĐỀ 27:

Đi đạo là bất hiếu đối với cha mẹ, vì phải bỏ việc cúng giỗ, thờ kính cha mẹ mà một người con hiếu thảo không thể không chu toàn.

GIẢI ĐÁP:

A. TRÌNH BÀY:

1) Bổn phận hiếu thảo với cha mẹ là gì?

Một người con hiếu thảo là người luôn biết ơn cha mẹ, biết làm vui lòng cha mẹ trong những điều hợp lý phải đạo. Khi cha mẹ già yếu, người con hiếu thảo sẽ phải lo săn sóc phụng dưỡng. Khi cha mẹ qua đời, người con hiếu thảo sẽ phải tưởng nhớ và cố gắng làm mọi việc để cha mẹ được vui vẻ hạnh phúc.

2) Theo đạo công giáo có bất hiếu với cha mẹ không?

Người theo đạo Công giáo không những không bất hiếu, mà còn là người con có hiếu cách sáng suốt nữa, vì những lý do như sau:

a) Những ai cho rằng: phải cúng đồ ăn thức uống cho cha mẹ đã chết để các ngài khỏi trở thành những cô hồn bơ vơ đói khát... là điều vô lý và mê tín. Ngày nay có lẽ không ai có chút hiểu biết còn tin rằng: linh hồn người chết cũng có thể ăn đồ ăn thức uống vật chất giống như người sống. Tuy nhiên, nếu coi việc cúng giỗ cha mẹ là một phong tục, một hành động biểu lộ lòng hiếu thảo tưởng nhớ công ơn cha mẹ, thì Hội Thánh Công giáo khuyến khích người tín hữu thực hiện, miễn là tránh những việc dị đoan trái đức tin công giáo, đồng thời cần giải thích khi co người thắc mắc về lý do việc làm bày tỏ lòng hiếu kính ông bà cha mẹ theo phong tục Việt nam của mình.

b) Nếu nói rằng: hiếu thảo là phải nhớ đến cha mẹ trong những ngày giỗ chạp thì người tín hữu công giáo cũng đã thực hiện, và hơn thế nữa khi còn làm nhiều việc hữu ích thực sự cho cha mẹ. Người lương chỉ nhớ đến cha mẹ và người thân trong các ngày sóc, vọng, rằm hoặc ngày kỵ, giỗ, tết... Còn người công giáo luôn nhớ đến cha mẹ và người thân đã chết mỗi khi đọc kinh dự lễ hằng ngày. Rồi vào các ngày giỗ chạp người tín hữu còn xin lễ cầu cho cha mẹ và người thân sớm được thanh luyện tội lỗi để được về thiên đàng hưởng hạnh phúc đời đời. Như vậy theo đạo đâu phải là bất hiếu, bỏ quên bổn phận chăm sóc phụng dưỡng cha mẹ.

c) Có người lại lập luận: không thờ cúng ông bà cha mẹ theo truyền thống từ ngàn xưa là một thái độ bất hiếu.

Nhưng nếu vậy thì hết mọi người chúng ta đều bất hiếu: Ai không tiếp tục ở trong ngôi nhà cũ của cha mẹ, không mặc y phục giống như cha mẹ khi xưa cũng là bất hiếu! Nhưng ngày nay không ai chấp nhận tư tưởng lỗi thời ấy nữa. Xưa kia cha ông đi bộ, nhưng ngày nay con cháu khi có việc đi xa và có hoàn cảnh thuận tiện lại dùng xe gắn máy, xe hơi, tàu hỏa, máy bay..., thế mà đâu có ai cho là bất hiếu. Ngày xưa, khi khiêng quan tài cha mẹ ra nghĩa trang phải đi bộ, và đi thật chậm đến độ không được làm đổ cốc nước để trên áo quan. Người ta cho rằng: Di chuyển quan tài chậm từng bước như vậy mới là đám ma lớn và mới cho thấy con cháu có hiếu. Thế nhưng ngày nay quan niệm đã đổi khác: người ta đã bỏ những thói tục rườm rà cổ hủ để thích nghi với hoàn cảnh xã hội văn minh tân tiến. Không ai còn nghĩ: xe hơi chở quan tài cha mẹ đi nhanh đến nghĩa trang là bất hiếu nữa... Như vậy: bỏ những cái cổ hủ vô lý, lỗi thời... để chấp nhận những điều mới mẻ hợp lý, thích nghi với hoàn cảnh xã hội văn minh... không phải là bất hiếu. Cũng vậy: bỏ đạo tự nhiên do con người lập ra để theo đạo siêu nhiên bắt nguồn từ trời đâu phải là bỏ cha mẹ và bất hiếu.

TÓM LẠI: Người theo đạo công giáo không phải là người con bất hiếu như có người lầm tưởng. Không những không quên công ơn cha mẹ, người công giáo còn luôn nhớ đến công ơn sinh thành dưỡng dục của cha mẹ và còn làm nhiều việc hữu ích thực sự cho cha mẹ nữa.

B. PHÚT HỒI TÂM:

1) LỜI CHÚA: Thánh Phao-lô khuyên dạy con cái phải tỏ lòng hiếu thảo với cha mẹ như sau: “Kẻ làm con hãy vâng lời cha mẹ theo tinh thần của Chúa, vì đó là điều phải đạo. Hãy tôn kính cha mẹ. Đó là điều răn thứ nhất có kèm theo lời hứa: Để ngươi được hạnh phúc và hưởng thọ trên mặt đất này” (Ep 6,1-3).

2) LỜI CẦU:

Lạy Chúa Giê-su. Trong thời gian ẩn dật tai Na-da-rét, Chúa đã luôn yêu mến vâng lời cha mẹ là hai ông bà Giu-se và Ma-ri-a, làm cho cha mẹ được vui lòng như tin mừng Lu-ca đã ghi nhận sau biến cố bị lạc năm 12 tuổi như sau: “Sau đó, Người đã đi xuống cùng với cha mẹ, trở về Na-da-rét và hằng vâng phục các ngài” (Lc 2,51).

Xin cho mỗi tín hữu chúng con hôm nay biết ý thức bổn phận phải hiếu thảo với cha mẹ, là những đấng thay quyền Chúa sinh thành, dưỡng dục chúng con... để chúng con biết đền đáp công ơn của các ngài, bằng việc chăm sóc phụng dưỡng khi các ngài còn sống, năng xin lễ cầu nguyện và làm nhiều việc lành thay các ngài sau khi các ngài qua đời, noi gương Chúa khi xưa luôn làm đẹp lòng Thiên Chúa Cha (x. Mt 3,17).

LM ĐAN VINH - HHTM

 

ĐỐI THOẠI VỀ KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN

 

II. VỀ ĐẠO LÀM NGƯỜI

VẤN ĐỀ 28:

Không cần phải theo đạo nào cả, chỉ cần ăn ngay ở lành, giữ đạo làm người là đủ.

GIẢI ĐÁP:

A. TRÌNH BÀY:

1. Đạo làm người là phong cách sống để trở thành một con người lương thiện, tự chủ, tự trọng và trưởng thành về nhân cách, thể hiện qua việc chu toàn các bổn phận đối với bản thân, gia đình, xã hội, đất nước... Được như vậy đã là điều tốt đẹp và đáng trân trọng. Nhưng nếu suy nghĩ kỹ, chúng ta thấy vẫn chưa đủ, nếu không chu toàn bổn phận đối với Tạo Hóa là Đấng đã dựng nên muôn vật muôn loài, đặc biệt loài người chúng ta, và hằng thương yêu săn sóc để chúng có thể tồn tại và ngày càng phát triển theo thánh ý Ngài.

2. Bổn phận nhận biết tôn thờ Thiên Chúa:

Thực vậy, dù không nhìn thấy Thiên Chúa vì Ngài là Đấng thiêng liêng vô hình, nhưng loài người có trí khôn, biết suy luận từ hậu quả đến nguyên nhân, từ cái đã biết đến điều chưa biết... nên còn phải nhận biết có Tạo Hóa là Đấng đã tạo nên vũ trụ vạn vật và an bài mọi sự... Từ đó, họ sẽ chu toàn bổn phận hiếu thảo với Thiên Chúa bằng việc tôn thờ, tạ ơn và vâng lời Ngài.

Tóm lại: Muốn giữ đạo làm người, muốn sống xứng đáng là một con người có trí khôn trổi vượt muôn loài, thì ngoài việc phải chu toàn các bổn phận đối với xã hội và bảo tồn thiên nhiên, loài người chúng ta còn có bổn phận phải tin thờ biết ơn Thiên Chúa nữa. Ai cố tình từ chối tôn thờ Thiên Chúa là Đấng tạo dựng nên mình và hằng ban muôn ơn lành hồn xác cho mình thì không được coi là đã giữ đạo làm người cách xứng đáng đầy đủ được.

B. PHÚT HỒI TÂM:

1) LỜI CHÚA: Đức Giê-su nói: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6).

2) LỜI CẦU: Lạy Thiên Chúa Cha từ ái. Xin cho chúng con biết năng nghĩ đến người khác để sống đạo làm người, biết sống tình mến Chúa yêu người để nên con yêu dấu của Chúa, biết học sống giới răn yêu thương để nên môn đệ thực sự của Đức Giê-su và sống chứng nhân bác ái để chu toàn sứ mạng loan báo Tin Mừng theo lệnh Người truyền. Xin cho chúng con luôn sống gắn bó mật thiết với Chúa Giê-su là Con Đường, là Sự Thật và là Sự Sống, để sau này cùng được chia sẻ hạnh phúc Nước Trời với Người. AMEN.

LM ĐAN VINH - HHTM

 

ĐỐI THOẠI VỀ KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN

 

III. ĐÂU LÀ TÔN GIÁO ĐÍCH THỰC?

VẤN ĐỀ 29:

Trên thế giới ngày nay có rất nhiều tôn giáo và tôn giáo nào cũng dạy ăn ngay ở lành, cũng tự cho tôn giáo của mình là đích thực bắt nguồn từ trời. Vậy làm thế nào để phân biệt: đâu là tôn giáo thực sự do Thiên Chúa? Đâu là con đường dẫn đến Thiên Chúa cách chắc chắn nhất và mang lại hạnh phúc cho con người?

GIẢI ĐÁP:

A. TRÌNH BÀY:

1) Câu chuyện: Tôn giáo nào tốt nhất?

Tại một cuộc hội thảo bàn tròn về tôn giáo và tự do có Đức Đạt Lai Lạt Ma và tôi cùng tham dự. Lúc tạm nghỉ, tôi hỏi ngài, vừa tinh nghịch vừa tò mò: “Thưa ngài, tôn giáo nào tốt nhất?”.

Tôi nghĩ ngài sẽ nói: “Phật giáo Tây Tạng” hoặc “Các tôn giáo phương đông lâu đời hơn Ki-tô giáo nhiều”.

Đức Đạt Lai Lạt Ma trầm ngâm giây lát, mỉm cười và nhìn vào mắt tôi... Điều này làm tôi ngạc nhiên vì tôi biết đây là một câu hỏi ranh mãnh. Đức Đạt Lai Lạt Ma trả lời: “Tôn giáo tốt nhất là tôn giáo đưa anh đến gần Đấng Tối Cao nhất. Là tôn giáo biến anh thành con người tốt hơn”.

Để dấu sự bối rối của tôi trước một câu trả lời đầy khôn ngoan như thế, tôi hỏi: “Cái gì làm tôi tốt hơn?”. Ngài trả lời: “Tất cả cái gì làm anh biết thương cảm hơn, biết theo lẽ phải hơn, biết từ bỏ hơn, dịu dàng hơn, nhân hậu hơn, có trách nhiệm hơn, có đạo đức hơn. Tôn giáo nào biến anh thành như vậy là tôn giáo tốt nhất”.

Tôi thinh lặng giây lát, lòng đầy thán phục, ngay cả bây giờ, khi nghĩ đến câu trả lời đầy khôn ngoan và khó phản bác của ngài.

Ngài nói tiếp: “Anh bạn ơi, tôi không quan tâm đến tôn giáo của anh hoặc anh có ngoan đạo hay không”. “Điều thật sự quan trọng đối với tôi là cách cư xử của anh đối với người đồng đẳng, gia đình, công việc, cộng đồng, và đối với thế giới”. “Hãy nhớ rằng vũ trụ dội lại hành động và tư tưởng của chúng ta”. “Quy luật của hành động và phản ứng không chỉ dành riêng cho vật lý. Nó cũng được áp dụng cho tương quan con người. Nếu tôi ở hiền, thì tôi gặp lành. Nếu tôi gieo gió, thì tôi gặt bão”. “Những gì ông bà nói với chúng ta là sự thật thuần túy. Chúng ta luôn nhận được những gì chúng ta mong ước cho người khác. Hạnh phúc không phải là vấn đề số mệnh. Đó là vấn đề lựa chọn”.

Cuối cùng ngài nói: “Hãy suy tư cẩn thận vì Tư Tưởng sẽ biến thành Lời Nói. Hãy ăn nói cẩn thận vì Lời Nói sẽ biến thành Hành Động. Hãy hành xử cẩn thận vì Hành Động sẽ biến thành Thói Quen. Hãy chú trọng Thói Quen vì chúng hình thành Nhân Cách. Hãy chú trọng Nhân Cách vì nó hình thành Số Mệnh, và Số Mệnh của anh sẽ là Cuộc Đời của anh... và... Không có tôn giáo nào cao trọng hơn Sự Thật”.

(Nguồn: ww.lamhong.net)

2) So sánh các tôn giáo:

Quan sát sinh hoạt của con người trên thế giới từ xưa đến nay, ta thấy xuất hiện rất nhiều tôn giáo khác nhau tùy theo trình độ văn minh và ở nhiều địa phương... đến nỗi một triết gia đã định nghĩa: “Con người là con vật có tôn giáo”.

Sở dĩ con người có tôn giáo chính là vì con người có trí khôn biết suy luận từ cái đã biết đến điều chưa biết, từ hậu quả đến nguyên nhân, nên con người đã sớm biết có Đấng Tạo hóa, và do lòng biết ơn thúc đẩy con người đã biểu lộ bằng các hình thức lễ bái tôn thờ. Đó là lịch sử của tôn giáo xét trên bình diện tự nhiên.

Tuy nhiên, khi so sánh các tôn giáo với nhau, chúng ta nhận thấy: ngoài một số điểm tương đồng như đều tin có Đấng Thiêng Liêng vượt trên con người, được gọi bằng những Danh xưng khác nhau, cùng tin thế giới bên kia là nơi thưởng người lành và phạt kẻ dữ, đều dạy tín đồ phải ăn ngay ở lành... còn có rất nhiều dị biệt về giáo lý và luân lý, có khi mâu thuẫn nhau. Chẳng hạn:

- Về giáo lý: Các tôn giáo có những quan niệm khác biệt về bản tính của Thiên Chúa: Phải chăng Thiên Chúa là Nguyên Khí Linh Hư (Drahman) như Ấn độ giáo chủ trương, hay là một Đấng có nhân tín biết vui buồn giận ghét của một con người như Đấng Allah của Hồi giáo, hoặc “Thiên Chúa là Tình Yêu” của Ki-tô giáo? Thiên Chúa duy nhất và độc tôn hay còn là Tam Vị Nhất Thể (Một Chúa Ba Ngôi)? Hạnh phúc đời sau là Niết Bàn thoát hết phiền não, tắt hết tình dục và bất sinh bất diệt của Phật giáo, hay là Thiên Đàng đầy những lạc thú trần tục của Hồi giáo, hoặc Thiên Đàng là tình trạng con người được sống vui vẻ yêu thương hạnh phúc tròn đầy và được hưởng kiến tôn nhan Thiên Chúa “diện đối diện” của Kitô giáo?...

- Về luân lý: Hồi giáo chấp nhận thói tục đa thê, cho ly dị và chấp thuận chế độ nô lệ, đang khi Ki-tô giáo đòi hỏi chế độ một vợ một chồng, cấm ly hôn và chủ trương mọi con người đều bình đẳng với nhau. Còn Phật giáo thì không có một lập trường rõ ràng về vấn đề này. Đối với kẻ thù: Hồi giáo chủ trương thánh chiến, đang khi Phật giáo và Ki-tô giáo giảng dạy sự từ bi bác ái, nhường nhịn tha thứ, yêu thương kẻ thù để biến thù thành bạn...

Những sự khác biệt nói trên cho thấy không phải giáo lý và luân lý của các tôn giáo đều là chân lý và đều có giá trị ngang nhau, vì chân lý chỉ có một. Do đó, đòi chúng ta phải sáng suốt nhận định và chọn lựa cho mình một tôn giáo đích thực, nghĩa là tôn giáo trình bày sự thật về Thiên Chúa, giúp chúng ta gặp gỡ Thiên Chúa, có khả năng biến đổi chúng ta nên tốtmang lại cho chúng ta hạnh phúc đời đời. Vậy làm thế nào để phân biệt đâu là tôn giáo thực sự phát xuất từ trời? Đâu là con đường dẫn chúng ta đến với Thiên Chúa cách chắc chắn nhất?

3) Tiêu chuẩn để xác định giá trị của một tôn giáo:

Tôn giáo là con đường giúp con người gặp gỡ Thiên Chúa là cùng đích và là hạnh phúc tuyệt đối mà con người luôn khao khát hướng về như thánh Au-gút-ti-nô đã cầu xin Chúa: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con hướng về Chúa. Và tâm hồn con vẫn còn xao xuyến mãi cho đến khi nào con được nghỉ yên trong Chúa”. Do đó, tôn giáo đích thực là tôn giáo thiết lập được mối liên lạc chắc chắn và hữu hiệu nhất giữa con người với Thiên Chúa, là con đường dẫn đưa con người đến với Thiên Chúa cách chắc chắn và hoàn hảo nhất như sau:

a) Về Giáo lý: tôn giáo đích thực phải có một hệ thống giáo lý hợp lý và đầy đủ, khã dĩ đáp ứng được mọi thắc mắc của con người về những vấn đề trọng đại, liên quan đến con người và Thiên Chúa, thế giới bên kia. Chẳng hạn: Tôi là ai? Tôi sinh ra để làm gì? Chết rồi tôi sẽ ra sao? Tại sao có đau khổ, sự ác? Tại sao có vũ trụ? Bản tính Thiên Chúa thế nào? v.v...

b) Về luân lý: tôn giáo đích thực phải có sức nâng cao đạo đức của con người, giúp tín đồ mỗi ngày nên hoàn thiện, tiến đến gần Chân Thiện Mỹ tuyệt đối là Thiên Chúa hơn.

c) Về siêu nhiên: Tôn giáo đích thực còn phải có những bằng chứng siêu nhiên là các dấu lạ chứng tỏ tôn giáo ấy bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa, chứ không phải chỉ là sản phẩm suy luận của trí khôn loài người.

4) Tôn giáo nào là tôn giáo đích thực của Thiên Chúa?

Căn cứ theo những tiêu chuẩn nói trên ta thấy chỉ có Ki-tô giáo mới là tôn giáo đích thực vì bắt nguồn từ nơi Thiên Chúa và mang lại hạnh phúc muôn đời cho con người dựa vào các bằng chứng sau:

a) Về giáo lý: Chỉ có Ki-tô giáo mới có các chân lý mặc khải toàn vẹn về Thiên Chúa, vì Đức Kitô là Đấng lập đạo chính là Con Thiên Chúa, được Thiên Chúa sai đến để bày tỏ về bản tính của Ngài. Người chính là Lời Thiên Chúa làm người, để dẫn đưa con người đang lầm lạc trở về với Thiên Chúa. Chỉ một mình Người mới dám tự xưng: “Thầy là Đường, là Sự Thật và là Sự Sống. Không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Chỉ mình Người mới là Lời của Thiên Chúa nói với loài người, đã đưa ra lời giải đáp thỏa đáng cho những vấn đề ưu tư hàng đầu của con người. Chính nhờ Đức Giê-su mà chúng ta mới biết Thiên Chúa là ai? Ngài yêu thương ta thế nào? và ta phải làm gì để đáp lại tình thương của Ngài?

- Thánh Gio-an viết: “Thiên Chúa là Tình Yêu: Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4,16).

- Đức Giê-su trả lời Phi-líp-phê: “Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: “Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha?” Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy. Chính Người làm những việc của mình” (Ga 14,9-11).

- “Tôi với Chúa Cha là Một” (Ga 10,30).

- “Sự sống đời đời đó là họ nhận biết Cha, Thiên Chúa duy nhất và chân thật, và nhận biết Đấng Cha đã sai đến là Giê-su Ki-tô” (Ga 17,3).

- “Phúc thay ai có tâm hồn nghèo khó, vì Nước Trời là của họ” (Mt 5,3).

- “Khi Con Người đến trong vinh quang của Người, có tất cả các thiên sứ theo hầu. Bấy giờ Người sẽ ngự trên ngai vinh hiển của Người. Các dân thiên hạ sẽ được tập hợp trước mặt Người và Người sẽ tách biệt họ với nhau, như mục tử tách biệt chiên với dê” (Mt 25,31-32).

- “Thế là họ (kẻ gian ác) ra đi để chịu cực hình muôn kiếp, còn những người công chính ra đi để hưởng sự sông muôn đời” (Mt 25,46).

b) Về luân lý: Các tôn giáo nói chung đều dạy tin đồ phải ăn ngay ở lành, phù hợp với lương tâm con người. Đây chính là luật luân lý tự nhiên do Thiên Chúa đã phú ban cho con người ngay từ khi mới sinh. Ai cũng suy nghĩ giống nhau: Ăn cắp là xấu và người ta không được lấy cắp chiếm đoạt tài sản của người khác, phải có lòng hiếu thảo biết ơn cha mẹ và những người làm ơn cho mình... Các vị giáo tổ cũng giúp con người trong thời đại của các ngài hướng thượng và sống ăn ngay ở lành. Vì thế, nhiều người đã cho rằng: “Đạo nào cũng dạy ăn ngay ở lành nên đạo nào cũng tốt như nhau”. Tuy nhiên, nếu điều tốt có nhiều cấp độ như: Khá tốt, tốt vừa, rất tốt, cực kỳ tốt, tốt nhất... thì sự tốt đẹp của các tôn giáo cũng có mức độ khác nhau từ thấp lên cao. Đàng khác, điều quan trọng trong các tôn giáo không những là dạy làm tốt, mà còn phải có những phương thế hữu hiệu giúp cải tạo các tín đồ từ xấu nên tốt nữa. Về vấn đề này thì chỉ có Ki-tô giáo mới có đủ điều kiện trở thành tôn giáo tốt nhất giúp các tín hữu nên tốt lành thánh thiện, nhờ một nên giáo lý luân lý hoàn hảo, và còn cung cấp các phương thế hữu hiệu giúp các tín hữu thành tâm ngày một nên tốt lành thánh thiện hơn.

Thực vậy: Đấng sáng lập Ki-tô giáo là Đức Giê-su vừa là người vừa là Con Thiên Chúa. Người đã được Chúa Cha xác nhận là “Con yêu dấu, luôn làm đep lòng Cha” (x Mt 5,17; 17,5). Người có sứ mệnh thánh hóa loài người, bằng việc đến gặp các tội nhân để thánh hóa họ nên công chính, vì “người đau yếu mới cần thầy thuốc” (x. Mt 9,12), và “Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất” (Lc 19,10). Người biến đổi con người nên tốt lành thánh thiện bằng Lời quyền năng và nhờ ơn Thánh Thần được ban qua các phép bí tích do Hội Thánh cử hành. Nhờ đó, người tín hữu sẽ có khả năng ngày một nên hoàn thiện hơn.

c) Về siêu nhiên:

Để chứng minh sứ mệnh và nguồn gốc từ nơi Thiên Chúa, Đức Giê-su đã thực hiện mọi lời các ngôn sứ tuyên sấm về thân thế và sứ mệnh của Đấng Thiên Sai (x. Lc 4,17-21), đồng thời Người đã làm nhiều phép lạ cứu nhân độ thế như: Cho kẻ què được đi (x. Ga 5,8-9), kẻ mù được thấy (x. Mt 9,27-31), người câm nói được (x. Mt 9,32-34); phong cùi được sạch (x. Mt 8,1-4); kẻ chết sống lại (x. Ga 11,43-44)... Ngoài ra, Người cũng có quyền lực lạ lùng trên thiên nhiên: Nhân bánh ra nhiều (x. Ga 6,1-14), biến nước thành rượu (x. Ga 2,1-11), dẹp yên bão táp (x. Lc 8,22-25), chữa lành các bệnh hoạn tật nguyền trong dân (x. Mc 1,34), trừ quỷ (X. Mt 8,28-34), phục sinh kẻ chết (x. Ga 11,43-44). Cuối cùng phép lạ lớn nhất là đã từ cõi chết sống lại khi chết chưa đủ ba ngày như Người đã báo trước (x. Lc 24,1-43).

Chỉ có Thiên Chúa mới có thể làm được những phép lạ như Đức Giê-su đã làm. Qua đó cho thấy: Đức Giê-su chính là Đấng “Em-ma-nu-el”: nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta” (Mt 1,23). Đàng khác, Đức Giê-su cũng phải là một con người trung thực, như người mù đã nhận định với các đầu mục dân Do thái: “Thiên Chúa không nhậm lời những kẻ tội lỗi. Còn ai kính sợ Thiên Chúa và làm theo ý của Người, thì Người nhậm lời kẻ ấy... Nếu không phải là người bởi Thiên Chúa mà đến, thì ông ta đã chẳng làm được gì” (Ga 9,31.33). Nên có thể nói: Tất cả những gì Đức Giê-su dạy về Thiên Chúa cho loài người chúng ta đều là sự thật như Tin Mừng Gio-an đã viết: “Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Mô-sê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Ðức Giê-su Ki-tô mà có. Không ai đã thấy Thiên Chúa bao giờ; nhưng Con Một là Thiên Chúa và là Ðấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Người đã tỏ cho chúng ta biết” (Ga 1,17-18).

d) Về sự Bền vững: Ngoài ra, còn một bằng chứng hùng hồn chứng tỏ Ki-tô giáo là tôn giáo đích thực bắt nguồn từ Thiên Chúa đó là việc Hội thánh của Chúa Ki-tô vẫn luôn tồn tại dù đã trải qua rất nhiều trở lực và không ngừng bị bách hại do các thế lực vua quan bên ngoài cũng như do ma quỷ xúi giục chia rẽ từ trong nội bộ...:

- Bách hại từ bên ngoài:

Thế kỷ I–III: những cuộc bắt bớ của dân Do thái và bách hại của các hoàng đế La Mã.

Thế kỷ V: Những cuộc xâm lăng của dân man di.

Thế kỷ X–XIV: Những mưu toan lợi dụng tôn giáo của chế độ vua chúa phong kiến.

Thế kỷ XVIII: Giáo hội bị bách hại do cuộc cách mạng Pháp.

Thế kỷ XIX–XX: Giáo hội vẫn tiếp tục bị bách hại ở nhiều nơi: Bè Nhiệm ở Pháp, Quốc xã tại Đức v.v...

- Chia rẽ từ bên trong:

Thế kỷ II: Bè rối chủ trương trong vũ trụ có hai nguyên lý: sự lành là Thiên Chúa, sự dữ là vật chất. Thân xác là vật chất nên thuộc về sự dữ. Từ đó cho rằng Chúa Giê-su chỉ có dáng vẻ thân xác chứ không có thân xác thực sự. Nói cách khác: Không có mầu nhiệm Ngôi Lời Nhập Thể.

Thế kỷ IV: Thuyết Arius chủ trương: Chúa Giê-su không có Thiên tính. Như vậy, Chúa Con không đồng bản thể với Chúa Cha và không ngang bằng Chúa Cha.

Thế kỷ V:

Nestorius lại chủ trương: Chúa Giê-su không những có hai tính mà còn có hai Ngôi. Do đó, Đức Mẹ Ma-ri-a không thể được gọi là Mẹ Thiên Chúa, mà chỉ là mẹ con người Giê-su thôi.

Eutyches thì lại chủ trương ngược lại: Chúa Giê-su chỉ có một bản tính là bản tính Thiên Chúa.

Thế kỷ IV–V: Pélage chủ trương: con người có thể tự mình không cần Ơn Chúa cũng có thể được rỗi linh hồn.

Thế kỷ IX–X: Ly giáo Chính Thống Đông Phương đòi ngang hàng với Rôma. Như vậy bao nhiêu nước Phương Đông là có bấy nhiêu Giáo hội: Hy Lạp, Nga, Lỗmani v.v...

Thế kỷ XII–XIII: Albigeois ở Pháp chủ trương có hai thần: Thần lành và thần dữ. Các tín hữu chia làm hai lớp: lớp trọn lành sống nhiệm nhặt và không kết hôn, và lớp người thường sống theo tình dục xác thịt. Các tín hữu cần phải hãm mình đền tội và tránh việc vợ chồng.

Thế kỷ XV–XVI: Phong trào Phục Hưng, trở lại nguồn cảm hứng của thời thượng cổ ngoại giao: lý trí độc lập, bỏ tất cả quyền hành hay luật luân lý, chủ trương khoái lạc.

Thế kỷ XVI: Tin Lành ra đời do Luther khởi xướng. Giáo phái này chống lại Giáo hội về các vấn đề quan trọng như: vấn đề ân xá, tín điều Tội Tổ Tông, về sự giải thích Kinh Thánh, về sự độc thân của Hàng Giáo sĩ v.v... Sau đó phái này lan truyền đi khắp nơi ở Âu Châu tạo thành rất nhiều giáo phái khác nhau. Ở Thụy Sĩ có Zwingle, ở Pháp chịu ảnh hưởng của Calvin, ở Anh hoàng đế Henri 8 bất mãn với Giáo Hoàng Clêmentê 7 về hôn nhân và tách ra thành lập Anh giáo.

Thế kỷ XVII: tà thuyết Jansénius chủ trương rằng: con người không thể tự mình làm được gì, phần rỗi linh hồn hoàn toàn do Thiên Chúa tiền định.

Thế kỷ XVIII–XX: Các triết thuyết vô tín ngưỡng xuất hiện rất nhiều tấn công Giáo hội khắp nơi. Ở Đức có Karl Marx, Nietzsche. Ở Pháp có Voltaire, Reman, Anatole France, Jean Paul Sartre...

Nhưng trước sự tấn công tứ bề cả bên ngoài do thế quyền, cũng như từ bên trong về giáo lý của những kẻ thù nghịch, Giáo Hội Chúa Ki-tô vẫn anh dũng vượt qua và tiếp tục đứng vững. Pascal nói: “Có điều kỳ diệu và hoàn toàn thần linh là tôn giáo này luôn bị đả kích mà vẫn luôn tồn tại. Ngàn lần hầu như sắp bị tiêu diệt toàn diện, và mỗi lần trong tình trạng này, Thiên Chúa lại dùng quyền năng mà nâng dậy... Tôn giáo này được duy trì và không ngừng lan truyền đi khắp nơi. Đó là bằng chứng cho thấy tôn giáo này là của Thiên Chúa”. Thực đúng như lời Chúa Giê-su đã nói với Si-mon Phê-rô: “Anh là Phê-rô, nghĩa là Tảng Đá. Trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi” (x. Mt 16,18).

TÓM LẠI: Chỉ có Ki-tô giáo mới có đầy đủ tiêu chuẩn của một tôn giáo đích thực:

- Có một nền giáo lý vững chắc, đáp ứng được những thắc mắc của con người về các vấn đề nhân sinh;

- Có một nền luân lý lành mạnh giúp con người ăn ngay ở lành xứng đáng với phẩm giá con người;

- Có những phương thế chắc chắn để biến đổi con người ngày một nên hoàn thiện hơn;

- Và cuối cùng còn có những bằng chứng siêu nhiên nơi Đức Giê-su, nơi Hội Thánh Công Giáo do Người thiết lập và được Người luôn bảo vệ vượt qua bao gian nan thử thách.

Do đó, những ai muốn gặp gỡ Thiên Chúa, muốn sống một cuộc đời xứng đáng làm người có trí khôn; muốn được sống an vui ngay từ đời này và bảo đảm một cuộc sống hạnh phúc vĩnh cửu là thiên đàng đời sau, phải chọn đi trên con đường ngắn nhất và chắc chắn nhất là Đức Giê-su như Người đã nói: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). Con đường đó là đường “Qua đau khổ vào vinh quang”, đó chính là con đường của đạo Công Giáo. Công đồng Va-ti-ca-nô II cũng khẳng định: “Những ai biết rằng Hội Thánh Công Giáo được Thiên Chúa thiết lập nhờ Chúa Giê-su Ki-tô, như phương tiện cứu rỗi cần thiết, mà vẫn không muốn gia nhập hoặc không muốn kiên trì sống trong Hội Thánh ấy, thì không thể được cứu rỗi”. (Hiến chế tin lý về Giáo Hội – LG số 14).

B. PHÚT HỒI TÂM:

1) LỜI CHÚA: Đức Giê-su nói: “Chính Thầy là con đường, là sự thật và là sự sống. Không ai đến với Chúa Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6).

2) LỜI CẦU:

- Lạy Thiên Chúa Cha từ bi nhân ái. Xin Cha đổ ơn Thánh Thần giúp chúng con thêm lòng tin, cậy, mến nơi Con Cha là Đức Giê-su Ki-tô. Xin giúp chúng con vững tin Người là Đấng Ki-tô và là Con yêu của Cha như Tông đồ Phê-rô đã tuyên xưng (x. Mt 16,16). Xin cho chúng con trung thành với đức tin công giáo và tông truyên. Chúng con xác tín rằng: chỉ có Đức Giê-su mới là con đường duy nhất dẫn đưa chúng con lên trời với Cha (x. Ga 14,6 b). Xin cho chúng con biết vâng nghe Lời Con yêu dấu của Cha là Đức Giê-su (x. Mt 17,5) và luôn sống kết hiệp mật thiết với Người.

- Chúng con biết rằng: Trước khi sai Đức Giê-su đến, Cha cũng đã soi sáng cho một số vị giáo tổ nhận biết phần nào sự thật về Cha là: tin có Ông Trời như một số câu ca dao như: “Lạy Trời mưa xuống lấy nước tôi uống, lấy ruộng tôi cày, lấy đầy bát cơm, lấy rơm đun bếp”; “Trời xanh có mắt”, “Lưới Trời lồng lộng, tuy thưa nhưng khó lọt...” Qua lời dạy mọi người phải ăn ngay ở lành của các vị giáo tổ, Cha chuẩn bị cho loài người nhận biết Đấng Thiên Sai là Đức Giê-su. Từ đây, chỉ những ai tin vào Danh Đức Giê-su, thực hành theo giáo huấn của Người và đi theo con đường “qua đau khổ vào vinh quang” của Người mới được về trời hưởng hạnh phúc đời đời. Ai cố tình không tin vào Người, biểu lộ qua thái độ từ chối sống theo Lời Người, không muốn gia nhập vào Hội Thánh Công Giáo là Nước Trời do Người thiết lập... là tự loại mình ra khỏi ơn cứu độ của Người.

- Xin cho chúng con vững tin vào Đức Giê-su và quyết tâm sống giới răn “Yêu thương” của Người, luôn kết hiệp với Người và mở lòng đón nhận ơn Thánh Thần của Người để tích cực góp phần chu toàn sứ mệnh loan báo Tin Mừng, làm chứng cho Người (x. Cv 1,8) từ trong gia đình đến khu xóm và mọi lúc mọi nơi... để giúp nhiều người nhận được cứu độ.- AMEN.

LM ĐAN VINH - HHTM

 

ĐỐI THOẠI VỀ KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN

 

IV. CÓ BUỘC CẢI ĐẠO KHI KẾT HÔN VỚI NGƯỜI CÔNG GIÁO KHÔNG?

VẤN ĐỀ 30:

Tại sao người lương muốn kết hôn với người bạn trai hay gái công giao đều phải cải đạo rồi mới được kết hôn tại nhà thờ? Phải chăng như vậy là vi phạm quyền tự do tín ngưỡng?

GIẢI ĐÁP:

A. TRÌNH BÀY

Những đám cưới mà hai người nam nữ cùng theo đạo công giáo thì không có vần đề. Tuy nhiên những đám cưới mà cô dâu chú rể khác tín ngưỡng. Chẳng hạn: người Công Giáo lấy người Phật Giáo, đạo ông bà, người không tôn giáo... thì ngoài các thủ tục theo phong tục tập quán giữa hai gia đình đàng trai đàng gái và thủ tục làm giấy công nhận kết hôn của chính quyên, giáo luật còn đòi đôi thanh niên nam nữ phải học giáo lý hôn nhân như điều kiện bắt buộc để được cử hành hôn phối tại nhà thờ. Vậy tại sao Giáo Hội công giáo lại buộc đôi dự hôn phải học giáo lý dù một bên không theo công giáo? Giáo Hội có buộc người lương phải cải đạo để theo đạo công giáo trước khi cử hành hôn lễ tại nhà thờ không?

1) Việc buộc học giáo lý hôn nhân trước khi kết hôn tại nhà thờ:

a) Chứng chỉ giáo lý hôn nhân là điều kiện để được kết hôn tại nhà thờ:

Giáo Luật đòi các đôi thanh niên nam nữ cùng đạo công giáo hoặc khác đạo (công giáo và không công giáo) muốn cử hành hôn lễ tại nhà thờ thì ngoài các giấy tờ liên quan khác, còn phải xuất trình chứng chỉ giáo lý hôn phối do linh mục chính xứ hay giám đốc trung tâm giáo lý hôn nhân có uy tín cấp.

Muốn được cấp giấy chứng chỉ giáo lý hôn phối, học viên phải làm đơn đăng ký và tham dự các tiết học. Thời gian mỗi khóa giáo lý hôn nhân kéo dài từ ba đến sáu tháng tùy theo số tiết học nhiều ít mỗi tuần. Cuối cùng học viên còn phải làm bài thi đủ điểm đậu vào cuối khóa học.

- Lý do phải học giáo lý hôn nhân:

Trước khi làm việc gì, muốn đạt kết quả thì người thực hiện phải có đủ kiến thức và trình độ chuyên môn về công việc sắp làm. Chẳng hạn: Một người muốn lái xe hơi mà thiếu kiến thức luật giao thông và thiếu kinh nghiệm thực tế lái xe sẽ có nguy cơ gây ra tai nạn hoặc vi phạm luật đi đường. Cũng vậy muôn xây dựng được một gia đình hòa hợp hạnh phúc, giáo luật đòi các đôi dự hôn phải xuất trình giấy chứng chỉ giáo lý hôn nhân cũng là điều đúng đắn hợp lý.

- Nội dung giáo lý hôn nhân:

Nội dung khóa giáo lý hôn nhân gồm các đề tài liên quan đến kiến thức cơ bản về giáo lý công giáo và việc thực hành đức tin trong đời sống hôn nhân gia đình, về các phương cách duy trì và thăng tiến tình yêu vợ chồng, về tình dục và sinh con có trách nhiệm, về việc “nuôi con khỏe dạy con ngoan” và về hôn lễ mà đôi tân hôn sẽ cử hành tại nhà thờ...

2) Việc phải cải đạo để theo công giáo khi kết hôn với người công giáo:

a) Ý muốn của các phụ huynh công giáo: Hầu như cha mẹ công giáo nào khi con cái tới tuổi trưởng thành cũng đều muốn cho chúng chọn được một người chồng hay người vợ cùng đạo để bảo toàn đức tin công giáo truyền thống của gia đình.

b) Về quyền tự do tín ngưỡng: Một người lương khi quen biết với bạn trai hay gái công giáo vẫn có quyền tự do theo hay không theo đạo công giáo: Nếu người lương không có đức tin, hoặc vì hoàn cảnh là con trai trưởng, con trai duy nhất trong gia đình phải lo cúng giỗ ông bà cha mẹ qua đời... thì không nên kết hôn với người công giáo, nhưng nên chọn kết hôn với người đồng tín ngưỡng.

c) Các giải pháp người lương có thể tự do chọn khi kết hôn với người công giáo: Nếu đã quen biết với người bạn công giáo lâu ngày và hai người đã có tình yêu thương sâu đậm không thể chia tay, hoặc đã lỡ có thai với nhau... thì người lương có thể chọn một trong các giải pháp sau:

Một là thuyết phục người bạn công giáo tiến hành đám cưới nhưng không vào nhà thờ.

Hai là ý thức đây là duyên phận trời định nên cần đăng ký học khóa giáo lý dự tòng và hôn nhân để dễ dàng sống hòa hợp hạnh phúc lâu dài với người công giáo về sau.

Ba là khi có lý do chính đáng, đôi dự hôn sẽ xin phép chuẩn hôn phối khác đạo với lời hứa sẽ tôn trọng đức tin của nhau và đồng ý cho con cái được giáo dục theo đức tin công giáo.

d) Trình tự theo học khóa giáo lý dự tòng: Việc xin chịu phép rửa tội để gia nhập đạo công giáo không dễ dàng, mà đòi người lương phải có đức tin thể hiện qua bốn bước như sau:

+ Một là đôi dự hôn sẽ đến xin linh mục chính xứ bên nam nữ công giáo hướng dẫn thủ tục xin theo đạo công giáo.

+ Hai là phải thực tập sống đức tin bằng việc tham dự thánh lễ Chúa Nhật hằng tuần tại nhà thờ và tập thói quen cầu nguyện sớm tối và trước khi dùng bữa.

+ Ba là đăng ký theo học khóa giáo lý dự tòng và chăm chỉ nghe giảng bài và thảo luận các đề tài, học thuộc câu Lời Chúa và dâng lời nguyện tự phát cuối mỗi bài. Ngoài ra còn phải học thuộc một số kinh cần để cùng đọc kinh chung gia đình sau này.

+ Bốn là vào lúc cuối khóa còn phải viết đơn xin chịu các bí tích khai tâm là Thánh Tẩy, Thêm Sức và Thánh Thể để được gia nhập đạo, tham dự tĩnh tâm và tập lễ nghi rửa tội nữa.

e) Về sự tự nguyện: Việc học giáo lý để theo đạo là một hành vi tự nguyện chứ không bị ép buộc. Nếu một người bị ép buộc theo đạo mà không có đức tin và không thực tâm theo thì phép thánh tẩy sẽ không thành sự. Do đó nếu sau một thời gian học giáo lý mà học viên không thực lòng muốn theo, thể hiẹn qua việc không đến nhà thờ dự thánh lễ Chúa Nhật, không cầu nguyện sớm tối, không thuộc các câu Lời Chúa quan trọng và các kinh thường đọc... thì không nên viết đơn xin gia nhập đạo, để tránh tình trạng chịu phép bí tích không thành, mà còn mắc tội phạm sự thánh nữa. Người ta cũng thường phê phán những người theo đạo thiếu thành tâm này như sau: “Cúi đầu lạy Chúa Ba Ngôi. Cho tôi được vợ tôi thôi nhà thờ!”

g) Về phép chuẩn hôn phối khác đạo: Trường hợp một người lương muốn kết hôn với người công giáo mà vì hoàn cảnh không thuận lợi. Chẳng hạn: là con trai trưởng phải lo cúng giỗ ông bà cha mẹ, hoặc đã lỡ ăn ở với nhau mang bầu mà không đủ thời gian học giáo lý dự tòng để theo đạo, thì tùy theo sự khôn ngoan và đức bác ái mục tử, linh mục chính xứ sẽ cho đôi dự hôn tiến hành thủ tục xin phép chuẩn hôn phối khác đạo, nghĩa là hai người được phép kết hôn tại nhà thờ theo thỏa thuận “đạo ai nấy giữ”.

Đôi hôn phối khác đạo phải làm đơn xin cử hành phép chuẩn hôn phối khác đạo gửi về tòa giám mục với lời cam kết: Hai bên hứa sẽ tôn trọng tự do tín ngưỡng thể hiện qua việc tránh xúc phạm đến đức tin của nhau, đồng ý cho bên công giáo quyền lo cho các con trai con gái sẽ sinh ra được chịu phép thánh tẩy sau khi sinh một tháng và được học các lớp giáo lý theo lứa tuổi. Bên công giáo thành tâm sống đạo để làm chứng cho Chúa, hầu sau này khi có điều kiện người chồng hay vợ bên lương sẽ gia nhập đạo công giáo để gia đình được hòa hợp trọn vẹn.

h) Về thủ tục giấy tờ khi xin kết hôn theo giáo luật: Cũng như muốn xin việc làm tại cơ quan hay xí nghiệp, ứng viên phải có đủ giấy tờ theo yêu cầu của nhà tuyển dụng, thì việc người lương muốn kết hôn với người công giáo, cũng phải nộp đủ các loại giấy tờ như sau:

+ Về phạm vi đời: Phải nộp giấy công nhận kết hôn do chính quyền dịa phương cấp, giấy chứng nhận chồng hay vợ trươc đã chết, giấy tòa án chứng nhận hai vợ chồng trước đã ly hôn, giấy xác nhận của người chồng hay vợ lương trước đây không muốn sông chung với người chồng hay vợ theo đạo công giáo để đủ điều kiện hưởng đặc ân thánh Phao-lô.

+ Về phạm vi đạo: phải có giấy chứng chỉ giáo lý hôn nhân của 2 người dự hôn, giấy giới thiệu của LM chánh xứ xác nhận người này là giáo dân trong xứ đã chịu phép rửa tội, Thêm sức và còn độc thân; Giấy chứng rửa tội do nơi đã ban phép rửa tội mới cấp không quá sáu tháng, nhằm truy gốc về tình trạng độc thân; Giấy đã rao hôn phối không có trở ngại kết hôn; Giấy tự khai điều tra nhân thân...

Tóm lai: Việc người lương xin theo đạo công giáo để kết hôn với người công giáo hay xin cử hành nghi thức phép chuẩn hôn phối khác đạo tai nhà thờ (với nhưng điều kiện kèm theo) là một việc làm hoàn toàn tự giác và tự nguyện chứ không bị ai ép buộc.

B. PHÚT HỒI TÂM:

1) LỜI CHÚA: Thánh Phao-lô dạy người chồng hay vợ công giáo phải ứng xử thế nào nếu gặp trường hợp người chồng hay vợ bên lương không theo đạo cấm cản: “Nếu anh em nào có vợ ngoại mà người đó thuận ở với mình, thì chớ rẫy vợ. Và người vợ nào có chồng ngoại mà người đó thuận ở với mình, thì đừng bỏ chồng. Vì chồng ngoại được thánh hóa nhờ vợ, và vợ ngoại được thánh hóa nhờ người chồng có đạo” (1 Cr 7, 12-14).

2) LỜI CẦU:

Lạy Thiên Chúa Cha giàu lòng từ bi thương xót. Xin giúp các gia đình tín hữu chúng con sống hòa hợp hạnh phúc theo ý Chúa muốn. Xin củng cố tình yêu vẫn còn nhiều giới hạn và sai sót của chúng con. Đặc biệt xin Chúa thương những đôi vợ chồng không cùng đức tin. Xin đổ ơn Thánh Thần giúp họ vượt qua những khác biệt về đức tin, để nên bạn trăm năm chia ngọt sẻ bùi với nhau, và sẵn sàng giúp nhau sông tình con thảo với Cha và tình huynh đệ trong Hội thánh.- Amen.

LM ĐAN VINH - HHTM

 

PHỤ CHÚ

Hội Thánh Công giáo công nhận hai loại hôn nhân: Một là hôn nhân tự nhiên là sự kết hôn giữa hai người nam nữ kết hôn hợp pháp. Hai là bí tích Hôn phối giữa hai người nam nữ đều là tín hữu công giáo. Bí tích hôn phối là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ đủ điều kiện kết hôn trước sự chứng kiến và chúc phúc của thừa tác viên của Hội Thánh có quyền chứng hôn. Về bản chất, sự kết hợp này là duy nhất và vĩnh viễn. Giáo luật Công giáo còn có các quy định cụ thể về việc cử hành bí tích Hôn phối từ điều 1055 đến điều 1065. Vấn đề sinh sản và giáo dục con cái được coi là một yếu tố quan trọng đi kèm trong hôn nhân Công giáo.

1. VỀ HÔN NHÂN CÔNG GIÁO:

1) Quan niệm: Giáo hội Công giáo xác định hôn nhân công giáo là mộtbí tích” do Đức Giê-su đã thiết lập trong bữa tiệc cưới tại thành Ca-na và trong bữa tiệc đó Người đã làm dấu lạ cho nước lã trở thành rượu nho để giúp đôi tân hôn. Về sau Đức Giê-su đã tuyên bố về tính “bất khả phân ly” của hôn nhân và cấm sự ly hôn khi trả lời các người Pha-ri-sêu như sau: “Các ông không đọc thấy điều này sao: “Thuở ban đầu, Đấng Tạo Hóa đã làm ra con người có nam có nữ, và Người đã phán: Vì thế, người ta sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,4-6). Như vậy, hôn nhân công giáo mang tính thánh thiêng. Chính việc nói lời ưng thuận của đôi tân hôn trước sự chứng kiến và chúc phúc của thừa tác viên Hội Thánh là linh mục hay phó tế và hai nhân chứng, làm cho lời kết ước giữa hai người nam nữ trở thành giao ước vĩnh cửu giữa Đức Giê-su và Hội Thánh. Người Công giáo tin rằng khi cử hành bí tích hôn nhân, tình yêu của đôi bạn sẽ được Thiên Chúa chúc phúc và ban ơn giúp hai người chung thủy với nhau suốt đời, trong một giao ước do Chúa Giê-su đã thiết lập. Trong bí tích hôn phối, chính đôi tân hôn cử hành kết ước chứ không phải linh mục hay phó tế chứng hôn. Linh mục hay phó tế chỉ là người thay mặt Thiên Chúa và Hội Thánh đứng ra chứng hôn để làm cho việc kết ước giữa hai người thành sự và sau đó chúc phúc cho họ, để giúp họ chu toàn lời thề hứa chung thủy và sống trăm năm hạnh phúc với nhau.

2) Đặc tính: Hôn nhân Công giáo có hai đặc tính là độc hôn (một vợ một chồng) và vĩnh hôn (tồn tại vĩnh viễn), dựa vào lời Chúa Giê-su: “Sự gì Thiên Chúa đã phối hợp, loài người không được phân ly” (Mt 19,6).

Ngoài ra, Hội thánh Công giáo tuy rất thông cảm với tình trạng của những người ái nam ái nữ, nhưng không công nhận hôn nhân giữa hai người đồng giới nghĩa là nam kết hôn với nam và nữ kết hôn với nữ, vi hôn nhân này không phù hợp với lời Đức Chúa phán khi thiết lập hôn nhân tự nhiên.

3) Ý nghĩa:

Do mang đặc tính như vậy nên người Công giáo tin rằng đôi thanh niên nam nữ lãnh nhận bí tích hôn nhân có bổn phận trung thành với nhau mãi mãi. Giáo hội Công giáo quan niệm rằng: con người được sinh ra là do Thiên Chúa, vì thế, hôn nhân cũng là sự cộng tác vào công cuộc sáng tạo của Thiên Chúa qua việc sinh sản.

Tuy nhiên, cuộc sáng tạo của Thiên Chúa ngoài việc sinh sản còn bao gồm các yếu tố của một cuộc sống hạnh phúc như: chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội, tạo điều kiện phát triển kinh tế, phát triển khoa học kỹ thuật, cải thiện chất lượng sống cho con người... nên phải sinh con có trách nhiệm, nghĩa là không phải chỉ biết sinh nhiều về số lượng, mà còn phải quan tâm đến sức khỏe của con cái và khả năng nuôi dạy của cha mẹ, hầu sau này chúng sẽ trở thành những công dân tốt trong xã hội và những tín hữu đạo hạnh của Thiên Chúa.

Giáo hội Công giáo không công nhận những đôi hôn phối chỉ kết hôn dân sự (làm giấy công nhận kết hôn) mà không cử hành nghi thức hôn phối theo phép đạo tại nhà thờ. Giáo luật khẳng định: “Giữa những người tín hữu đã chịu phép rửa tội, không thể có khế ước hôn phối hữu hiệu nếu đồng thời không phải là bí tích hôn phối. Những người công giáo chưa chịu bí tích Thêm Sức, phải lo lãnh nhận bí tích ấy trước lễ hôn phối hết sức có thể, nếu không gặp sự khó khăn trầm trọng” (x. GL điều 1055 và 1065).

2. ĐIỀU KIỆN CỦA BÍ TÍCH HÔN NHÂN:

Hôn nhân công giáo phải hội đủ những điều kiện như sau:

1) Về sự tự do:

Tự do tinh thần: tự do kết hôn, không chịu sức ép nào từ bên ngoài (gia đình, người thân, các khoản khế ước, vay nợ...). (Giáo Luật, điều 1057).

Tự do dân sự: không bị ràng buộc về mặt pháp lý hôn nhân dân sự (như đang có hôn thú với người khác) và pháp lý về độ tuổi dân sự theo luật pháp quốc gia (ở Việt Nam, nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên).

2) Về đức tin tôn giáo:

Người nam và người nữ phải đồng đạo nghĩa là đã chịu phép thánh tẩy (rửa tội) theo nghi thức Công giáo, có giấy chứng nhận của nhà thờ nơi đã được chịu phép rửa tội.

Người nam và người nữ chưa lãnh nhận bí tích hôn phối lần nào, hoặc không còn bị ràng buộc bởi một bí tích hôn phối trước đó. Chẳng hạn khi chồng hay vợ mình đã qua đời tự nhiên.

Trước hôn lễ, đôi dự hôn phải học khóa giáo lý hôn phối và được cấp giấy chứng nhận. Lớp giáo lý hôn nhân được tổ chức tại nhà thờ giáo xứ hay tại một trung tâm giáo lý có uy tín, để giúp cho người chuẩn bị kết hôn những kiến thức cần biết về đức tin, kỹ năng sống chung trong gia đình, sinh sản và giáo dục con cái.

Không bị vướng vào một hay nhiều “ngăn trở” theo Giáo Luật.

Người tín hữu Công giáo phải cử hành hôn lễ theo nghi thức Công giáo. Nếu ai cử hành nghi thức không Công giáo sẽ bị chế tài tôn giáo, và những người tham dự vào nghi thức đó cũng chịu hình phạt tương tự.

3) Vấn đề tính dục, sinh sản:

Giáo Luật, điều 1061: Hôn phối hữu hiệu giữa những người đã chịu phép rửa tội được gọi là thành nhận khi được cử hành theo nghi thức kết hôn tại nhà thờ; hôn phối được gọi là hoàn hợp khi đôi bạn đã được thành nhận mà có sự giao hợp với nhau phù hợp với nhân tính. Sự giao hợp là hành động hướng đến việc sinh sản con cái, tức là một mục tiêu tự nhiên của hôn nhân, và do hành động ấy, đôi bạn trở nên một thân xác (thành thân).

Sau khi đã cử hành hôn phối, nếu đôi bạn đã sống chung với nhau thì sự hoàn hợp được suy đoán cho đến khi có bằng chứng chứng minh ngược lại.

Hôn phối không thành sự (vô hiệu) được coi là giả định, nếu đã được cử hành tại nhà thờ với sự ngay tình, ít ra là của một bên, cho đến khi cả hai bên đều biết chắc chắn về sự vô hiệu hay không thành sự của nghi thức hôn phối.

4) Vấn đề ngừa thai, phá thai:

- Ngừa thai: Giáo hội Công giáo quan niệm rằng, sinh sản là do quyền năng của Thiên Chúa, con người chỉ cộng tác vào sứ mạng này qua hôn nhân. Ngừa thai là loại bỏ Thiên Chúa ra khỏi sứ mạng sinh sản ấy. Do đó, Giáo hội không cho phép sử dụng các biện pháp tránh thai nhân tạo (can thiệp trực tiếp để ngăn cản tiến trình thụ thai), mà chỉ được dùng cách ngừa thai tự nhiên (tính theo chu kỳ kinh nguyệt để biết ngày nào trứng rụng có thể đậu thai hầu tiết dục, nghĩa là tránh giao hợp vợ chồng trong thời gian mấy ngày trong tháng có thể đậu thai này). Mọi biện pháp can thiệp từ bên ngoài như: đặt vòng tránh thai, dùng thuốc tránh thai, dùng bao cao su...) đều bị cấm.

Tuy ngăn cấm việc ngừa thai nhân tạo và phá thai, nhưng Giáo hội cũng khuyến khích giáo dân sinh con có trách nhiệm, nghĩa là cha mẹ cần chuẩn bị để liệu sao có đủ điều kiện chăm sóc và nuôi dạy con cái cả về mặt vật chất cũng như tinh thần. Tránh sinh con vô trách nhiệm khi đang trong tình trạng nghèo đói chạy ăn từng bữa, đang bị bệnh nan y... mà cứ muốn sinh thêm nhiều con cái nữa. Vì đây là nguyên nhân gây bao nỗi bất hạnh cho các gia đình. Con cái không được nuôi dạy và học hành tử tế, trở thành bất hảo và là gánh nặng cho xã hội.

- Phá thai: Vì quan niệm phá thai là giết người từ trong trứng nước, nên Giáo hội Công giáo lên án gay gắt việc phá thai và coi là một trọng tội, vi phạm nghiêm trọng giới răn thứ năm “chớ giết người”. Những ai cố tình phá thai và những người cộng tác vào việc này đều bị chế tài là bị vạ tuyệt thông.

5) Nghi thức hôn phối:

Nghi thức hôn phối Công giáo thường được cử hành trong thánh lễ có giáo dân tham dự, trước mặt linh mục hoặc phó tế có quyền chứng hôn và hai nhân chứng. Trong trường hợp đặc biệt mà không có linh mục phó tế, đôi tân hôn có thể cử hành hôn lễ trước mặt thừa tác viên là giáo dân có quyền chứng hôn và hai nhân chứng, và sau đó phép hôn phối phải được ghi vào sổ hôn phối của giáo xứ sở tại.

- Nghi thức tuyên hôn: Trước mặt linh mục và hai người chứng, chú rể và cô dâu sẽ lần lượt cầm tay nhau mà tuyên bố nhận nhau làm vợ (chồng) theo công thức như sau:

Anh (Em).............nhận em (anh)............... làm vợ (chồng), và hứa sẽ giữ lòng chung thủy với em (anh) khi thịnh vượng cũng như lúc gian nan, khi mạnh khỏe cũng như luc đau yếu, để yêu thương và tôn trọng em (anh) mọi ngày suốt đời anh (em)”.

- Nghi thức trao nhẫn: Chú rể và cô dâu lần lượt xỏ nhẫn cưới cho nhau và nói như sau:

T..., em (anh) hãy nhận chiếc nhẫn này để làm dấu chỉ tình yêu và chung thủy của anh (em). Nhân danh Cha và Con và Thánh Thần”.

 

ĐỐI THOẠI VỀ KHOA HỌC VÀ ĐỨC TIN

 

V. VỀ VIỆC RỬA TỘI CHO TRẺ EM

VẤN ĐỀ 31:

Tại sao phải rửa tội khi con cái chúng ta ngay khi còn bé? Chúng không phải là con cái của Thiên Chúa sao? Có thể để cho chúng được tự do lựa chọn lãnh nhận bí tích rửa tội khi chúng đã khôn lớn không?

GIẢI ĐÁP:

A. TRÌNH BÀY:

Ngày nay một số người chủ trương cha mẹ công giáo không nên cho con mới sinh chịu phép rửa tội. Theo họ: Con nít mới sinh đâu đã phạm tội gì để phải rửa tội? Còn việc cho con theo đạo thì tại sao không để con lớn lên tới tuổi trưởng thành (18 tuổi), rồi chúng sẽ hiểu biết để tự do quyết định theo đạo hay không. Lập luận đó đúng sai thế nào?

1) Về ý nghĩa và giá trị của phép rửa tội: Có lẽ chữ Rửa Tội chưa diễn tả được đầy đủ ý nghĩa của bí tích này. Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo đã dùng từ Thánh Tẩy thay vì rửa tội. Qua đó cho thấy ý nghĩa và giá trị của việc lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy như sau:

Bí tích Thánh Tẩy là cửa dẫn chúng ta vào đời sống thiêng liêng và là điều kiện để được lãnh nhận các phép bí tích khác trong Hội Thánh. Nhờ bí tích Thánh Tẩy, chúng ta sẽ được giải thoát khỏi tội lỗi và được tái sinh làm con Thiên Chúa, trở thành chi thể của Đức Ki-tô, được tháp nhập vào thân mình mầu nhiệm của Đức Ki-tô là Hội Thánh và tham phần vào sứ mạng cao cả của Hội Thánh (x. CĐ Flô-ren-ti-nô); “Bí tích thánh Tẩy là bí tích tái sinh chúng ta nhờ nước và trong Lời Chúa"(x. Giáo lý Rô-ma 2,2,5). Nhờ việc tin nhận Đức Giê-su, chúng ta sẽ trở nên con cái đích thực của Thiên Chúa như trong bài tựa của Tin Mừng Gio-an đã viết: “Còn những ai đón nhận, tức là những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa” (Ga 1,12). Ngoài ra, bí tích Thánh Tẩy còn liên kết mọi con cái Thiên Chúa thành một gia đình là Hội Thánh, và được hiệp thông trong một Thân Thể mầu nhiệm có Chúa Giê-su là Đầu. Như vậy người tín hữu không thể trì hoãn việc cho con cái mình chịu bí tích Thánh Tẩy từ khi mới sinh.

2) Tại sao lại rửa tội cho trẻ nhỏ? Tại sao không để cho trẻ nhỏ lớn lên và tự nó quyết định chịu Phép Rửa hay không?

a) Lý do cần rửa tội cho trẻ nhỏ con người công giáo mới sinh:

- Có người cho rằng rửa tội cho trẻ nhỏ như vậy là đi ngược lại mệnh lệnh của Chúa Giê-su: “Ai tin và chịu Phép Rửa sẽ được cứu độ” (Mt 16,16). Mệnh lệnh ấy theo họ hàm ý như saui: đức tin là điều kiện cần phải có để được chịu phép Thánh tẩy, mà trẻ sơ sinh chưa hiểu biết thì làm gì đã có đức tin ấy! Nên không nên cho chịu phép Rửa tội sớm.

- Đây cũng là một đề tài đã từng gây tranh cãi trong Hội Thánh thời sơ khai.

+ Ngay từ thời sơ khai, Hội Thánh cuooic cùng đã chấp thuận rửa tội cả nhà gồm người lớn và trẻ em. Sách Công Vụ đã thuật lại việc rửa tội “cho cả nhà” này như sau: Ở thành Phi-líp-phê có một bà tên là Ly-đi-a, quê ở Thy-a-ti-ra, chuyên buôn bán vải điều. Bà là người tôn thờ Thiên Chúa. Bà đã được Chúa mở lòng tin những lời Phao-lô giảng. Sau đó bà và cả nhà đã chịu phép Rửa (x. Cv 16,14-15). Rồi sau khi hai ông Phao-lô và Si-la làm phép lạ trừ quỷ ám cho một người tớ gái, hai ông đã bị quan tòa tông giam vào ngục do bị các thầy bói tố cáo. Đêm hôm ấy một cuộc động đất mạnh xảy ra khiến cửa nhà tù mở toang và xiềng xích tự nhiên bung ra hết. Viên quản ngục sợ bị quy trách nhiệm đã định tự tử, nhưng khi biết được các tù nhân không bỏ trốn, ông ta đã tin vào Chúa Giê-su. Rồi “Ngay lúc đó giữa ban đêm, viên cai ngục đem hai ông đi, rửa các vết thương, “và ông ấy được chịu phép Rửa cùng với tất cả người nhà” (Cv 16,33).

+ Tuy nhiên đến thế kỷ III và IV, trong Hội thánh lại xuất hiện một quan điểm dè dặt với việc rửa tội cho trẻ nhỏ mới sinh. Lý do là vì thời bấy giờ các tín hữu lỡ phạm tội nặng muốn được ơn tha thứ, phải sám hối và làm việc đền tội rất nghiêm khắc: Họ bị phạt vạ tuyệt thông trong nhiều năm, đôi khi kéo dài suốt cả đời. Đàng khác, mỗi tội trọng chỉ được Hội thánh tha một lần trong đời, nên nhiều người tuy tin Chúa nhưng lại e ngại không dám xin chịu rửa tội sớm, vì sợ không thể sống nghiêm túc được. Nhiều người đã đợi đến khi những cơn dông bão tình dục của tuổi thanh xuân qua đi và khi đã bước sang tuổi già ổn định, họ mới dám xin gia nhập đạo.

b) Về sự tôn trọng tự do tín ngưỡng của con cái:

Ngày nay, sự chống đối việc rửa tội cho trẻ nhỏ không do sự sợ phải giữ luật sau khi chịu phép Rửa tội, nhưng từ ý nghĩ cho rằng trẻ nhỏ không cần phải chịu phép Rửa tội sớm mà nên để đến khi chúng đủ tuổi trưởng thành sẽ được quyền tự do chọn theo hay không theo đạo công giáo của cha mẹ.

c) Cả hai thái độ nói trên đều sai:

- Do hiểu lầm rằng: cho con sớm chịu phép Rửa tội là không tôn trọng tự do tín ngưỡng của con. Tuy nhiên nếu các cha mẹ công giáo hiểu được bí tích Rửa tội là một hồng ân Chúa ban và là điều kiện để con cái họ được hưởng ơn cứu độ, thì bất kỳ cha mẹ nào có tình yêu thương con cái cũng sẽ mong cho con sớm được chịu phép Rửa Tội, để chúng đón nhận được ơn cứu độ và được sống trong tình yêu của Thiên Chúa (x. GLHTCG số 1250).

- Thực vậy, do ảnh hưởng của tội Nguyên tổ, không ai có thể nên hoàn thiện bằng sức riêng của mình, nhưng phải nhờ ơn Chúa giúp (x. Cv 4,12). Hơn nữa, Đức Giê-su có lần đã nói với các môn đệ như sau: “Hãy để trẻ nhỏ đến cùng Thầy. Đừng ngăn cản chúng” (Mc 10,14), thì tại sao cha mẹ lại không sớm mang con đến với Chúa ngay từ khi chúng mới ra đời, để nhờ phép Rửa tội này, chúng sẽ được Chúa “ôm vào lòng và chúc lành” (x. Mc 10,16)? Vì thế Giáo Luật đã có qui định như sau: “Cha mẹ có bổn phận phải lo cho con cái mình được chịu phép Thánh tẩy ngay trong những tuần lễ đầu tiên. Ngay trong thời gian sớm nhất sau ngày sinh, cha mẹ cần gặp cha sở để xin cho con được chịu phép rửa tội và cha mẹ cũng được học hỏi về bí tích này. Nếu hài nhi mới sinh mà bị nguy tử, cha mẹ không được trì hoãn mà phải lập tức rửa tội cho con” (GL 867).

- Đàng khác, có người lại cho rằng cha mẹ cần tôn trọng tự do của con cái nên phải đợi cho chúng lớn lên và chúng sẽ được tự do chọn lựa đức tin. Nhưng điều này không hợp tình hợp lý: Vì chắc không cha mẹ nào lại phải chờ cho con cái mình lớn khôn rồi mới dạy cho chúng những điều hay lẽ phải. Kinh nghiệm cho thấy: Chính nhờ sự dạy dỗ của cha mẹ chúng ta ngay từ nhỏ dại mà ngày nay chúng ta mới có đủ hành trang vào đời và mới đạt được thành công trong cuộc sống. Về phạm vi đạo đức cũng vậy. Nhờ sự giáo huấn của cha mẹ mà mỗi người chúng ta mới biết chọn sống theo những giá trị cao quí mà không mất thời giờ tìm kiếm đức tin. Rửa tội cho con cái khi chúng còn nhỏ không những không làm phương hại đến tâm hồn trong trắng của con, mà trái lại con cái chúng ta còn nhận được những ân sủng và được huấn luyện về nhân bản. Đàng khác, có lẽ ai trong chúng ta cũng biết: Nhiều cha mẹ ngoài công giáo đã tìm cách gửi con cái họ theo học những trường nội trú Công giáo dù phải trả học phí gấp đôi gấp ba so với học tại các trường công lập. Chính vì họ tin rằng con cái họ sẽ được hưởng một nền giáo dục tốt để thành công trong cuộc sống sau này nhờ hấp thụ được một nền giáo dục tốt tại những trường công giáo.

- Cuối cùng, việc cho con cái được chịu phép Thánh tẩy để gia nhập đạo công giáo ngay từ nhỏ cũng không vi phạm quyền tự do tín ngưỡng của chúng, vì khi tới tuổi trưởng thành, chúng vẫn có quyền tự do sống đức tin công giáo hay chọn sống theo xác tín riêng của chúng.

TÓM LẠI: Việc cho con chịu phép rửa tội để được gia nhập đạo công giáo vừa là quyền lợi của đứa trẻ vừa là bổn phận của cha mẹ có trách nhiệm với con cái của mình:

Là quyền lợi của con cái: Cũng như cha mẹ không cần hỏi ý kiến của con để làm giấy khai sinh cho nó mang quốc tịch của mình, đặt tên cho con theo tên Gọi và Họ của cha mẹ... vì đó là quyền lợi mà con cái họ đương nhiên được hưởng. Cũng vậy: cha mẹ công giáo sau khi sinh con hãy mau cho con được chịu phép rửa tội để nên con Thiên Chúa, gia nhập vào Hội thánh với Tên Thánh do cha mẹ đặt cho mà không cần phải hỏi ý kiến của nó.

Là trách nhiệm của cha mẹ có lương tâm: Khi con nhỏ chưa thể suy nghĩ quyết định, cha mẹ sẽ quyết định thay con khi cho con ăn uống theo sự khôn ngoan của mình. Cha mẹ cũng thường răn dạy sửa phạt con ngay từ khi chúng còn bé nếu chúng làm sai, cho con đi học tại trường mà cha mẹ đánh giá tốt nhất cho con, dù lúc đó nó chưa muốn đi học... Nếu cha mẹ chiều theo ý con để cho nó ăn kẹo thay cơm, cho con bỏ học đi chơi vi-đê-ô game theo ý nó, cho con chơi với bạn xấu, tập hút thuốc hay chơi ma túy... mà không ngăn cản sửa phạt... chứng tỏ cha mẹ là người vô trách nhiệm và sẽ phải lãnh nhân hậu quả khôn lường khi con lớn lên trở thành những tên tội phạm xấu xa, bị xã hội trừng phạt do các tội ác chúng đã làm hại bản thân, gia đình xã hội.

B. PHÚT HỒI TÂM

1) LỜI CHÚA:

Người ta dẫn trẻ em đến với Đức Giê-su, để Người chạm tay vào chúng. Nhưng các môn đệ xẵng giọng với chúng. Thấy vậy Người bực mình nói với các ông: “Cứ để trẻ em đến với Thầy, đừng ngăn cấm chúng, vị Nước Thiên Chúa thuộc về những ai giống như chúng. Thầy bảo thật anh em: Ai không đón nhận Nước Thiên Chúa như một trẻ em, thì sẽ chẳng được vào. Rồi Người ôm lấy các trẻ em và đặt tay chúc lành cho chúng. (Mc 10,13-16).

2) LỜI CẦU:

Lạy Chúa Giê-su. Xin cho các cha mẹ công giáo chúng con biết quan tâm lo cho con cái mình được sớm lãnh nhận bí tích rửa tội từ khi được một hai tháng tuổi, để con em chúng con được ơn tha tội tổ tông truyền và được Thánh Thần tái sinh làm con Thiên Chúa.

Xin cho các cha mẹ công giáo luôn ý thức trách nhiệm giáo dục đức tin cho con ngay từ tuổi lên ba đang bập bẹ nói. Xin cho những người làm cha mẹ biết nêu gương sáng mến Chúa yêu người và dạy con cái học tập noi theo trong từng việc nhỏ. Nhờ đó con em chúng con sẽ được giáo dục đức tin để nên con thảo của Thiên Chúa, nên môn đệ thực sự của Chúa qua việc thực hành giới răn yêu thương, và nên thành viên trong đại gia đinh Hội thánh Công giáo. Nhờ đó chúng sẽ có thể chu toàn sứ mạng làm chứng cho Chúa giữa lòng xã hội của mình.- AMEN.

LM ĐAN VINH - HHTM

Chia sẻ.